Ứng dụng và điều chế hydroxyethyl methyl cellulose HEMC

Hydroxyethyl methyl cellulose HEMCHydroxyethyl methyl cellulose có thể được sử dụng như chất bảo vệ keo, chất nhũ hóa và chất phân tán nhờ chức năng hoạt động bề mặt trong dung dịch nước. Một ví dụ về ứng dụng của nó như sau: Ảnh hưởng của hydroxyethyl methyl cellulose đến tính chất của xi măng. Hydroxyethyl methyl cellulose là một loại bột màu trắng không mùi, không vị, không độc hại, hòa tan trong nước lạnh tạo thành dung dịch trong suốt, nhớt. Nó có các đặc tính làm đặc, liên kết, phân tán, nhũ hóa, tạo màng, huyền phù, hấp phụ, tạo gel, hoạt động bề mặt, giữ ẩm và bảo vệ keo. Nhờ chức năng hoạt động bề mặt của dung dịch nước, nó có thể được sử dụng như một chất bảo vệ keo, chất nhũ hóa và chất phân tán. Dung dịch nước hydroxyethyl methyl cellulose có tính ưa nước tốt và là chất giữ nước hiệu quả cao.
chuẩn bị
Phương pháp điều chế hydroxyethyl methyl cellulose, phương pháp này bao gồm việc sử dụng bông tinh chế làm nguyên liệu và ethylene oxide làm chất ete hóa để điều chế.hydroxyethyl methyl celluloseNguyên liệu thô để điều chế hydroxyethyl methyl cellulose được chuẩn bị theo tỷ lệ khối lượng như sau: 700-800 phần hỗn hợp toluene và isopropanol làm dung môi, 30-40 phần nước, 70-80 phần natri hydroxit, 80-85 phần bông tinh chế, 20-28 phần oxyethane, 80-90 phần methyl chloride và 16-19 phần axit axetic băng; các bước cụ thể như sau:

Bước đầu tiên, trong lò phản ứng, cho hỗn hợp toluen và isopropanol, nước và natri hydroxit vào, đun nóng đến 60~80 ℃, ủ trong 20~40 phút;

Bước thứ hai, kiềm hóa: làm nguội các vật liệu trên xuống 30~50℃, thêm bông tinh chế, phun hỗn hợp toluen và isopropanol với dung môi, hút chân không đến 0,006Mpa, nạp khí nitơ 3 lần, và tiến hành kiềm hóa sau khi thay khí. Điều kiện kiềm hóa như sau: thời gian kiềm hóa là 2 giờ, và nhiệt độ kiềm hóa là 30°C đến 50°C;

Bước thứ ba, ete hóa: quá trình kiềm hóa hoàn tất, hút chân không lò phản ứng đến 0,05~0,07MPa, thêm etylen oxit và metyl clorua, và giữ trong 30~50 phút; giai đoạn ete hóa thứ nhất: 40~60℃, 1,0~2,0 giờ, áp suất được kiểm soát trong khoảng 0,15-0,3Mpa; giai đoạn ete hóa thứ hai: 60~90℃, 2,0~2,5 giờ, áp suất được kiểm soát trong khoảng 0,4-0,8Mpa;

Bước thứ 4, trung hòa: thêm trước axit axetic băng đã được định lượng vào nồi kết tủa, ép vật liệu đã được ete hóa vào để trung hòa, đun nóng đến 75~80 ℃ để tiến hành kết tủa, nhiệt độ tăng lên đến 102 ℃, và giá trị pH đo được là 68. Khi quá trình kết tủa hoàn tất, đổ đầy bể kết tủa bằng nước máy đã được xử lý bằng thiết bị thẩm thấu ngược ở nhiệt độ 90℃~100℃;

Bước thứ năm, rửa ly tâm: vật liệu ở bước thứ tư được ly tâm bằng máy ly tâm trục vít nằm ngang, và vật liệu đã tách được chuyển vào nồi rửa đã được đổ đầy nước nóng từ trước, rồi tiến hành rửa sạch;

Bước thứ sáu, sấy ly tâm: nguyên liệu đã rửa được vận chuyển vào máy sấy thông qua máy ly tâm trục vít nằm ngang, nguyên liệu được sấy ở nhiệt độ 150-170°C, sau đó được nghiền thành bột và đóng gói.

So với hệ thống hiện cóete xenlulozaCông nghệ sản xuất này, phát minh hiện tại sử dụng etylen oxit làm chất ete hóa để điều chế hydroxyethyl methyl cellulose, và có khả năng chống nấm mốc tốt do chứa nhóm hydroxyethyl, độ nhớt ổn định và khả năng chống nấm mốc tốt trong quá trình bảo quản lâu dài. Có thể được sử dụng thay thế cho các ete cellulose khác.


Thời gian đăng bài: 25/04/2024