Bạn có biết về viên nang mềm làm từ thực vật hydroxypropyl methylcellulose và máy nghiền keo của nó không?

Hiện nay, nguyên liệu thô chính để sản xuất viên nang thực vật chủ yếu là hydroxypropyl methylcellulose (HPMC) và pullulan, ngoài ra tinh bột hydroxypropyl cũng được sử dụng làm nguyên liệu.

Kể từ đầu những năm 2010,HPMCĐã được ứng dụng rộng rãi trong ngành sản xuất viên nang thực vật của Trung Quốc, và dựa trên hiệu suất tốt của mình, viên nang rỗng HPMC đã chiếm được vị trí vững chắc trên thị trường viên nang, cho thấy nhu cầu tăng mạnh trong thập kỷ qua.

Theo số liệu ngành, năm 2020, doanh số bán viên nang rỗng cứng trong nước sẽ đạt khoảng 200 tỷ viên (bao gồm cả ngành dược phẩm và sản phẩm chăm sóc sức khỏe), trong đó doanh số bán viên nang HPMC sẽ đạt khoảng 11,3 tỷ viên (bao gồm cả xuất khẩu), tăng 4,2% so với năm 2019, chiếm khoảng 5,5%. Ngành công nghiệp phi dược phẩm chiếm 93% lượng tiêu thụ viên nang HPMC tại Trung Quốc, và sự tăng trưởng của ngành sản phẩm chăm sóc sức khỏe là động lực thúc đẩy doanh số bán viên nang HPMC.

Từ năm 2020 đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của viên nang HPMC có chất tạo gel dự kiến ​​đạt 6,7%, cao hơn tốc độ tăng trưởng 3,8% của viên nang gelatin. Hơn nữa, nhu cầu về viên nang HPMC trong ngành sản phẩm chăm sóc sức khỏe trong nước cao hơn so với ngành dược phẩm.HPMCViên nang có thể giúp giải quyết những khó khăn trong việc kê đơn thuốc và đáp ứng sở thích văn hóa cũng như chế độ ăn uống của người tiêu dùng trên toàn thế giới. Mặc dù nhu cầu hiện tại đối với viên nang HPMC vẫn thấp hơn nhiều so với viên nang gelatin, nhưng tốc độ tăng trưởng nhu cầu lại cao hơn so với viên nang gelatin.

1) Công thức và quy trình đột phá, không sử dụng chất tạo gel; có độ hòa tan tốt hơn, hành vi hòa tan ổn định trong các môi trường khác nhau, không bị ảnh hưởng bởi pH và cường độ ion, và đáp ứng các yêu cầu dược điển của các quốc gia và khu vực chính;

2) Đối với hàm lượng kiềm yếu, cần cải thiện khả năng hấp thụ sinh học và tối ưu hóa dạng bào chế;

3) Ngoại hình đẹp, và có nhiều lựa chọn màu sắc hơn.

Viên nang mềm là chế phẩm được tạo thành bằng cách niêm phong dầu hoặc hỗn dịch gốc dầu trong vỏ nang, có hình dạng tròn, hình quả ô liu, hình cá nhỏ, hình giọt nước, v.v. Đặc điểm của nó là hòa tan hoặc huyền phù các thành phần hoạt tính trong dầu, có tác dụng nhanh hơn và sinh khả dụng cao hơn so với việc bào chế cùng một thành phần hoạt tính đó thành dạng viên nén, và đã được sử dụng rộng rãi trong bào chế các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và thuốc. Hiện nay, các loại viên nang mềm với nhiều đặc điểm khác nhau như bao tan trong ruột, viên nhai, bơm thẩm thấu, giải phóng chậm và viên đặt mềm đã có mặt trên thị trường. Vỏ nang mềm được cấu tạo từ chất keo và các chất phụ gia. Trong đó, chất keo như gelatin hoặc gôm thực vật là thành phần chính, và chất lượng của chúng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của viên nang mềm. Ví dụ, hiện tượng rò rỉ vỏ nang, dính, di chuyển vật liệu, phân rã chậm và hòa tan của viên nang mềm trong quá trình bảo quản có liên quan đến các vấn đề như không tuân thủ quy định.

Hiện nay, phần lớn nguyên liệu làm viên nang mềm dược phẩm ở nước ta là gelatin động vật, nhưng với sự phát triển và ứng dụng sâu rộng của viên nang mềm gelatin, những nhược điểm của nó ngày càng trở nên rõ rệt, chẳng hạn như nguồn nguyên liệu phức tạp, dễ phản ứng liên kết chéo với các hợp chất aldehyd. Các vấn đề về chất lượng như thời gian bảo quản ngắn và “ba chất thải” sinh ra trong quá trình tinh chế gelatin có tác động lớn hơn đến bảo vệ môi trường. Ngoài ra, còn có vấn đề gelatin bị cứng lại vào mùa đông, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, viên nang mềm làm từ gôm thực vật ít gây tác động đến môi trường xung quanh. Với sự bùng phát liên tiếp của các bệnh truyền nhiễm có nguồn gốc động vật trên toàn thế giới, cộng đồng quốc tế ngày càng quan tâm đến sự an toàn của các sản phẩm động vật. So với viên nang gelatin động vật, viên nang thực vật có những ưu điểm vượt trội về khả năng ứng dụng, an toàn, ổn định và bảo vệ môi trường.

Thêm vàohydroxypropyl methylcelluloseCho các chất vào nước và khuấy đều để thu được dung dịch A; thêm chất tạo gel, chất đông tụ, chất làm dẻo, chất làm mờ và chất tạo màu vào nước và khuấy đều để thu được dung dịch B; trộn dung dịch A và B, đun nóng đến 90 ~ 95°C, khuấy đều và giữ ấm trong 0,5 ~ 2 giờ, làm nguội xuống 55 ~ 70°C, giữ ấm và để yên cho đến khi khử bọt để thu được keo;

Cách nhanh chóng để thu được dung dịch keo là phương pháp thông thường, đó là đun nóng từ từ trong nồi phản ứng trong thời gian dài.

24

 

Một số nhà sản xuất nhanh chóng đưa keo qua máy nghiền keo bằng hóa chất.

2526

 


Thời gian đăng bài: 25/04/2024