Cellulose dùng trong xây dựng là một chất phụ gia chủ yếu được sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng. Cellulose dùng trong xây dựng chủ yếu được sử dụng trong vữa bột khô. Việc thêm ete cellulose rất thấp, nhưng nó có thể cải thiện đáng kể hiệu suất của vữa ướt và ảnh hưởng đến hiệu suất thi công vữa. Hiệu suất này cần được chú ý trong quá trình sử dụng. Vậy các đặc tính vật lý của cellulose dùng trong xây dựng là gì, và quy trình thi công cellulose dùng trong xây dựng như thế nào? Nếu bạn chưa biết nhiều về các đặc tính và quy trình thi công cellulose dùng trong xây dựng, hãy cùng tìm hiểu nhé.
Các đặc tính vật lý của cellulose dùng trong xây dựng là gì?
1. Hình thức: dạng bột màu trắng hoặc trắng ngà.
2. Kích thước hạt; tỷ lệ lọt qua lưới 100 mesh lớn hơn 98,5%; tỷ lệ lọt qua lưới 80 mesh lớn hơn 100%.
3. Nhiệt độ cacbon hóa: 280-300°C
4. Khối lượng riêng biểu kiến: 0,25-0,70 g/cm³ (thường khoảng 0,5 g/cm³), tỷ trọng riêng 1,26-1,31.
5. Nhiệt độ biến màu: 190-200°C
6. Sức căng bề mặt: Dung dịch nước 2% có sức căng bề mặt từ 42-56 dyn/cm.
7. Tan được trong nước và một số dung môi, chẳng hạn như tỷ lệ thích hợp của ethanol/nước, propanol/nước, trichloroethane, v.v. Dung dịch nước có hoạt tính bề mặt. Độ trong suốt cao, hiệu suất ổn định, các sản phẩm có quy cách khác nhau có nhiệt độ tạo gel khác nhau, độ hòa tan thay đổi theo độ nhớt, độ nhớt càng thấp thì độ hòa tan càng cao, các HPMC có quy cách khác nhau có sự khác biệt nhất định về hiệu suất, và sự hòa tan của HPMC trong nước không bị ảnh hưởng bởi giá trị pH.
8. Khi hàm lượng methoxyl giảm, điểm tạo gel tăng, độ hòa tan trong nước của HPMC giảm và hoạt tính bề mặt cũng giảm.
9. HPMC còn có các đặc tính như khả năng làm đặc, khả năng chịu muối, hàm lượng tro thấp, độ ổn định pH, khả năng giữ nước, độ ổn định kích thước, đặc tính tạo màng tuyệt vời, và phạm vi kháng enzyme rộng, khả năng phân tán và độ kết dính tốt.
Quy trình sản xuất cellulose dùng trong xây dựng diễn ra như thế nào?
1. Yêu cầu về lớp nền: Nếu độ bám dính của lớp nền không đáp ứng yêu cầu, bề mặt ngoài của lớp nền cần được làm sạch kỹ lưỡng và cần sử dụng chất kết dính để tăng khả năng giữ nước của tường, từ đó tăng cường độ bám dính giữa tường và tấm xốp polystyrene.
2. Lắp đặt đường điều khiển: làm nổi bật các đường điều khiển ngang và dọc của cửa ra vào và cửa sổ, khe co giãn, khe trang trí, v.v. trên tường.
3. Treo dây tham chiếu: Treo các dây thép tham chiếu thẳng đứng tại các góc lớn (góc ngoài, góc trong) của các bức tường ngoài của tòa nhà và các vị trí cần thiết khác, và treo các dây ngang tại các vị trí thích hợp trên mỗi tầng để kiểm tra độ thẳng đứng và độ phẳng của tấm xốp polystyrene.
4. Chuẩn bị vữa kết dính polyme: Vật liệu này là vữa kết dính polyme đã được pha chế, cần được sử dụng theo đúng yêu cầu của sản phẩm, không được thêm bất kỳ vật liệu nào khác như xi măng, cát và các polyme khác.
5. Dán lưới thép lật ngược: Tất cả các vị trí hở trên mặt tấm xốp đã dán (như khe co giãn, khe lún công trình, khe cách nhiệt và các đường nối khác ở cả hai mặt, cửa ra vào và cửa sổ) cần được xử lý bằng lưới thép.
6. Tấm xốp polystyrene tự dính: Lưu ý rằng vết cắt phải vuông góc với bề mặt tấm. Sai lệch kích thước phải đáp ứng các yêu cầu của quy định, và các mối nối của tấm xốp polystyrene không được để lại ở bốn góc của cửa và cửa sổ.
7. Cố định neo: số lượng neo nhiều hơn 2 cái trên mỗi mét vuông (tăng lên hơn 4 cái đối với các tòa nhà cao tầng).
8. Chuẩn bị vữa trát: Chuẩn bị vữa trát theo tỷ lệ do nhà sản xuất cung cấp, sao cho đạt được độ chính xác về đo lường, khuấy trộn bằng máy móc và trộn đều.
Trong số các loại cellulose được sử dụng trong xây dựng, ete cellulose được sử dụng chủ yếu là hydroxypropyl methylcellulose trong vữa bột khô, còn ete hydroxypropyl methylcellulose đóng vai trò chính là khả năng giữ nước, làm đặc và cải thiện hiệu suất thi công trong vữa bột khô.
Thời gian đăng bài: 10 tháng 5 năm 2023