MC là metyl cellulose, được điều chế bằng cách xử lý bông tinh chế với kiềm, sử dụng metyl clorua làm chất ete hóa, và tạo thành ete cellulose thông qua một loạt các phản ứng. Nói chung, mức độ thế là 1,6~2,0, và độ hòa tan cũng khác nhau tùy thuộc vào mức độ thế. Thuộc loại ete cellulose không ion.
(1) Khả năng giữ nước củametyl celluloseKhả năng giữ nước phụ thuộc vào lượng chất thêm vào, độ nhớt, độ mịn của hạt và tốc độ hòa tan. Nói chung, nếu lượng chất thêm vào lớn, độ mịn nhỏ và độ nhớt lớn, thì khả năng giữ nước cao. Trong đó, lượng chất thêm vào có ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng giữ nước, còn độ nhớt không tỷ lệ thuận với khả năng giữ nước. Tốc độ hòa tan chủ yếu phụ thuộc vào mức độ biến đổi bề mặt của các hạt cellulose và độ mịn của các hạt. Trong số các ete cellulose nêu trên, metyl cellulose và hydroxypropyl metyl cellulose có khả năng giữ nước cao hơn.
(2) Methylcellulose hòa tan trong nước lạnh nhưng khó hòa tan trong nước nóng, và dung dịch nước của nó rất ổn định trong khoảng pH=3~12. Nó có khả năng tương thích tốt với tinh bột, guar gum, v.v. và nhiều chất hoạt động bề mặt. Khi nhiệt độ đạt đến nhiệt độ tạo gel, hiện tượng tạo gel sẽ xảy ra.
(3) Sự thay đổi nhiệt độ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ giữ nước của metyl cellulose. Nói chung, nhiệt độ càng cao thì khả năng giữ nước càng kém. Nếu nhiệt độ vữa vượt quá 40 °C, khả năng giữ nước của metyl cellulose sẽ kém hơn đáng kể, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thi công của vữa.
(4) Methyl cellulose có tác dụng đáng kể đến khả năng thi công và độ bám dính của vữa. “Độ bám dính” ở đây đề cập đến độ bám dính cảm nhận được giữa dụng cụ thi công của người thợ và bề mặt tường, tức là khả năng chống cắt của vữa. Độ bám dính lớn, khả năng chống cắt của vữa lớn, và lực mà người thợ cần trong quá trình sử dụng cũng lớn, dẫn đến việc thi công vữa kém. Độ bám dính của methyl cellulose ở mức trung bình trong các sản phẩm ete cellulose.
HPMC là hydroxypropyl methyl cellulose, một loại ete hỗn hợp cellulose không ion được sản xuất từ bông tinh chế sau khi xử lý kiềm, sử dụng propylene oxide và methyl chloride làm chất ete hóa, thông qua một loạt các phản ứng. Mức độ thế thường từ 1,2 đến 2,0. Tính chất của nó thay đổi tùy thuộc vào tỷ lệ hàm lượng methoxyl và hydroxypropyl.
(1) Hydroxypropyl methylcellulose dễ tan trong nước lạnh, nhưng sẽ gặp khó khăn khi tan trong nước nóng. Tuy nhiên, nhiệt độ tạo gel của nó trong nước nóng cao hơn đáng kể so với methyl cellulose. Khả năng hòa tan trong nước lạnh cũng được cải thiện đáng kể so với methyl cellulose.
(2) Độ nhớt của hydroxypropyl methylcellulose có liên quan đến kích thước trọng lượng phân tử của nó, và trọng lượng phân tử càng lớn thì độ nhớt càng cao. Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến độ nhớt của nó, khi nhiệt độ tăng thì độ nhớt giảm. Nhưng độ nhớt của nó ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ cao hơn so với methyl cellulose. Dung dịch của nó ổn định khi bảo quản ở nhiệt độ phòng.
(3) Hydroxypropyl methylcellulose ổn định với axit và kiềm, và dung dịch nước của nó rất ổn định trong phạm vi pH=2~12. Natri hydroxit và nước vôi ít ảnh hưởng đến hiệu suất của nó, nhưng kiềm có thể đẩy nhanh quá trình hòa tan và tăng độ nhớt. Hydroxypropyl methylcellulose ổn định với các muối thông thường, nhưng khi nồng độ dung dịch muối cao, độ nhớt của dung dịch hydroxypropyl methylcellulose có xu hướng tăng lên.
(4) Khả năng giữ nước củahydroxypropyl methylcelluloseHiệu quả phụ thuộc vào lượng thêm vào, độ nhớt, v.v. Tỷ lệ giữ nước ở cùng một lượng thêm vào cao hơn so với metyl cellulose.
(5) Hydroxypropyl methylcellulose có thể được trộn với các hợp chất polyme hòa tan trong nước để tạo thành dung dịch có độ nhớt đồng nhất và cao hơn. Ví dụ như polyvinyl alcohol, ete tinh bột, gôm thực vật, v.v.
(6) Độ bám dính của hydroxypropyl methylcellulose với cấu trúc vữa cao hơn so với methylcellulose.
(7) Hydroxypropyl methylcellulose có khả năng kháng enzym tốt hơn methylcellulose và khả năng phân hủy enzym trong dung dịch của nó thấp hơn so với methylcellulose.
Thời gian đăng bài: 28/04/2024