Hydroxyethyl cellulose có hiệu quả như một chất làm đặc không?

Cellulose là một polysaccharid tạo thành nhiều loại ete hòa tan trong nước. Chất làm đặc cellulose là các polyme hòa tan trong nước không ion. Lịch sử sử dụng của nó rất lâu đời, hơn 30 năm, và có rất nhiều loại. Chúng vẫn được sử dụng trong hầu hết các loại sơn latex và là chất làm đặc chủ đạo. Chất làm đặc cellulose rất hiệu quả trong các hệ thống gốc nước vì chúng tự làm đặc nước. Trong ngành công nghiệp sơn, các chất làm đặc cellulose được sử dụng phổ biến nhất là:metyl cellulose (MC), hydroxyethyl cellulose (HEC), ethyl hydroxyethyl cellulose (EHEC), hydroxypropyl cellulose (HPC),hydroxypropyl methyl cellulose (HPMC)và hydroxyethyl cellulose biến tính kỵ nước (HMHEC). HEC là một polysaccharid hòa tan trong nước được sử dụng rộng rãi trong việc làm đặc các loại sơn latex kiến ​​trúc mờ và bán bóng. Chất làm đặc có nhiều cấp độ nhớt khác nhau và chất làm đặc chứa cellulose này có khả năng tương thích màu sắc và độ ổn định khi bảo quản tuyệt vời.

Các đặc tính san phẳng, chống bắn tóe, tạo màng và chống chảy xệ của màng phủ phụ thuộc vào trọng lượng phân tử tương đối của...HECHEC và các polyme hòa tan trong nước không liên kết khác làm đặc pha nước của lớp phủ. Chất làm đặc cellulose có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với các chất làm đặc khác để đạt được đặc tính lưu biến đặc biệt. Ete cellulose có thể có trọng lượng phân tử tương đối khác nhau và độ nhớt khác nhau, từ dung dịch nước 2% có trọng lượng phân tử thấp với độ nhớt khoảng 10 mP·s đến độ nhớt có trọng lượng phân tử tương đối cao là 100.000 mP·s. Các loại có trọng lượng phân tử thấp thường được sử dụng làm chất keo bảo vệ trong quá trình trùng hợp nhũ tương sơn latex, và các loại được sử dụng phổ biến nhất (độ nhớt 4.800–50.000 mP·s) được sử dụng làm chất làm đặc. Cơ chế của loại chất làm đặc này là do sự hydrat hóa cao của liên kết hydro và sự vướng mắc giữa các chuỗi phân tử.

Cellulose truyền thống là một polyme có trọng lượng phân tử cao, chủ yếu đặc lại nhờ sự liên kết giữa các chuỗi phân tử. Do độ nhớt cao ở tốc độ cắt thấp, tính chất tự san phẳng kém, ảnh hưởng đến độ bóng của màng sơn. Ở tốc độ cắt cao, độ nhớt thấp, khả năng chống bắn tóe của màng sơn kém, và độ đặc của màng sơn không tốt. Các đặc tính ứng dụng của HEC, chẳng hạn như khả năng chống cọ, tạo màng và bắn tóe khi lăn, liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn chất làm đặc. Ngoài ra, các đặc tính chảy của nó như khả năng tự san phẳng và chống chảy xệ cũng bị ảnh hưởng lớn bởi chất làm đặc.

Cellulose biến tính kỵ nước (HMHEC) là chất làm đặc cellulose có sự biến tính kỵ nước trên một số chuỗi nhánh (một số nhóm alkyl mạch dài được đưa vào dọc theo chuỗi chính của cấu trúc). Lớp phủ này có độ nhớt cao hơn ở tốc độ cắt cao và do đó tạo màng tốt hơn. Ví dụ như Natrosol Plus Grade 330, 331, Cellosize SG-100, Bermocoll EHM-100. Hiệu quả làm đặc của nó tương đương với chất làm đặc ete cellulose có khối lượng phân tử tương đối lớn hơn nhiều. Nó cải thiện độ nhớt và độ phẳng của ICI, và giảm sức căng bề mặt. Ví dụ, sức căng bề mặt của HEC khoảng 67 mN/m, và sức căng bề mặt của HMHEC là 55~65 mN/m.

HMHEC có khả năng phun tuyệt vời, chống chảy xệ, làm phẳng bề mặt, độ bóng tốt và chống vón cục sắc tố. Nó được sử dụng rộng rãi và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tạo màng của các loại sơn latex có kích thước hạt mịn. Hiệu suất tạo màng và chống ăn mòn tốt. Chất làm đặc liên kết này hoạt động tốt hơn với hệ thống copolymer vinyl axetat và có các đặc tính tương tự như các chất làm đặc liên kết khác, nhưng với công thức đơn giản hơn.


Thời gian đăng bài: 25/04/2024